#CÓ_THỂ_BẠN_ĐÃ_BIẾT
HO ĐỜM CÁC BẠN NGHE NHIỀU VẬY ĐỜM LÀ GÌ ???
bài viết sau đây sẽ giúp bạn
-------
II. ĐỜM
1. Định nghĩa.
Đờm là các chất tiết ra từ hốc mũi tới phế nang và thải ra ngoài miệng.
2. Cấu tạo của đờm.
Đờm gồm các dịch tiết của khí phế quản, phế nang, họng, các xoang hàm trán, các hốc mũi:
2.1. Dịch tiết của khí phế quản.
Do các tuyến tiết ra chất nhầy, chất thanh dịch, ngoài ra còn có thanh dịch và bạch cầu thấm
qua thành mạch và niêm mạc khí phế quản.
2.2. Dịch tiết của phế nang: thấm qua tế bào vào túi phế nang.
2.3. Dịch tiết trên thanh mòn: Qua niêm mạc xoang hàm, tràn, hốc mũi, họng.
Bình thƣờng ai cũng có các loại tiết dịch trên, nhƣng không nhiều, cho nên hô hấp không bị cản
trở, không ho và khạc đờm. Khối lƣợng tiết dịch đó vào khoảng 100ml/24 giờ, các tiết dịch
đƣờng hô hấp sẽ qua thực quản rồi đào thải theo đƣờng tiêu hoá.
Trong trƣờng hợp bệnh lý, có tình trạng da tiết các dịch của đƣờng hô hấp, ngoài ra có thể còn
các chất khác không gặp trong điều kiện bình thƣờng nhƣ: máu, mủ, giả mạc, bã đậu. Các chất
trên cản trở đƣờng hô hấp, gây phản xạ ho và đƣợc tống ra ngoài, gọi là đờm. Nhƣng cũng có
một số ngƣời không khạc, mà lại nuốt đờm, cho nên thầy thuốc cần chú ý đến điểm này đối với
những trƣờng hợp gọi là ho khan, nhất là ở phụ nữ và trẻ em.
3. CÁC LOẠI ĐỜM
Đờm là hậu quả của nhiều nguyên nhân gây bệnh trên đƣờng hô hấp. Tuy nhiên, trong nhiều
trƣờng hợp, những xét nghiệm đờm về mặt cơ thể bệnh, vi khuẩn, và ngay cả hình thái của đờm
cũng giúp ta chẩn đoán bệnh.
Trên lâm sàng có thể gặp:
1. Đờm thanh dịch: gồm các thanh dịch tiết ra từ các huyết quản và có thể lẫn với hồng cầu.
Loại này rất loãng, đồng đều, thƣờng gặp trong phù phổi mạn tính hoặc cấp. Trong phù phổi mạn
tính hoặc câp. Trong phù phổi mạn tính, đờm màu trong, có bọt, nếu vì phù phổi cấp, đờm hồng
vì lẫn hồng cầu. Về mặt hoá học, đờm thanh dịch có phản ứng anbumin dƣơng tính của Roger.
2. Đờm nhầy: Màu trong nhầy, thƣờng gặp trong.
- Hẹn phế quản: Dịch nhầy do các phế quản tiết ra.
- Viêm phổi: dịch nhầy lẫn với sợi tơ huyết và hồng cầu thoát ra từ các huyết quản và vách phế
nang bị viêm. Đờm thƣờng rất quánh, dính vào thành và đáy ống nhổ và có màu đỏ của gỉ sắt.
3. Mủ. Sản phẩm của các ổ hoại tử do các loại ci khuẩn ở trong phổi hoặc ngoài phổi: ápxe phổi,
ápxe gan, dƣơi cơ hoành vỡ vào phổi, mủ có màu vàng hoặc xanh, hoặc nâu trong trƣờng hợp
apxe gan vỡ vào phổi. Mủ có màu tanh hoặc phối.
Xét nghiệm vi mô, thấy có nhiều sợi chun, thành phần của phế nang, và cũng là dấu hiệu của
huỷ hoại phế nang. Ngoài ra có rất nhiều bạch cầu đa nhân thoái hoá và có thể có vi khuẩn gây
bệnh.
4. Đờm mủ nhầy. Thƣờng gặp nhất trong giãn phế quản. Sau một cơn ho khạc nhiều đờm, nếu
hứng đờm trong một cốc thuỷ tinh, sẽ thấy ba lớp:
- Dƣới đáy: lớp mủ.
- Ở giữa: lớp dịch nhầy.
- Trên cùng: lớp bọt lẫn dịch nhầy và mủ.
Sở dĩ có ba lớp đờm nhƣ vậy, là vì có tình trạng viêm mạn tính ở các phế quản bị giãn, nên vừa
có hiện tƣợng đa tiết, vừa có hiện tƣợng hoá mủ ở các phế quản. Xét nghiệm vi mô có thể thấy
vi khuẩn, nhƣng không có dây chun.
5. Bã đậu: Thƣờng gặp trong lao phổi. Chất bã đậu màu trắng, nhuyễn, lẫn với dịch nhầy, có khi
lẫn máu. Xét nghiệm đờm có thể thấy vi khuẩn lao.
6. Đờm ít gặp: giả mạc bạch hầu, ken sán chó...
- Giả mạc bạch hầu: là sợi tơ huyết thấm qua niêm mạc hô hấp bị viêm trong bệnh bạch hầu: giả
mạc đƣợc thải thành từng mảng màu trắng, có trực khuẩn Loeffler.
- Kén sán chó: đờm rất loãng, trong vắt, lẫn với hạt nhỏ nhƣ hạt kê màu trong. Xét nghiệm vi mô
thấy đƣợc đầu sán chó.
4. CÁCH LẤY ĐỜM
Cần thết lấy đờm để xét nghiệm tìm nguyên nhân bệnh và cũng để theo dõi tiến triển của bệnh.
Trong ápxe phổi, nếu đờm tăng và sốt giảm, tiên lƣợng tốt, và nếu sốt vẫn dao động và ngƣời
bệnh khạc ít đờm, ta cần dè dặt hơn.
- Có thể đựng đờm trong một ống thuỷ tinh hoặc ống sắt tráng men, có nắp, và có ghi khối
lƣợng hằng ngày.
- Nếu ngƣời bệnh hợp tác tốt với thầy thuốc, ta có thể dặn ngƣời bệnh tự ghi lấy số lần khạc
đờm trong ngày đổ đánh giá khối lƣợng hàng ngày.
- Nếu ngƣời bệnh khọng khạc đờm có thể gây khạc nhổ bằng cách cho uống 1g kali iodua.
- Có khi phải thông dạ dày khi đói, hoặc xét nghiệm phân tìm vi khuẩn như trong lao phổi.
nguồn : tham gia group https://www.facebook.com/groups/hoinhathuocvaquaythuocvietnam/
HO ĐỜM CÁC BẠN NGHE NHIỀU VẬY ĐỜM LÀ GÌ ???
bài viết sau đây sẽ giúp bạn
-------
II. ĐỜM
1. Định nghĩa.
Đờm là các chất tiết ra từ hốc mũi tới phế nang và thải ra ngoài miệng.
2. Cấu tạo của đờm.
Đờm gồm các dịch tiết của khí phế quản, phế nang, họng, các xoang hàm trán, các hốc mũi:
2.1. Dịch tiết của khí phế quản.
Do các tuyến tiết ra chất nhầy, chất thanh dịch, ngoài ra còn có thanh dịch và bạch cầu thấm
qua thành mạch và niêm mạc khí phế quản.
2.2. Dịch tiết của phế nang: thấm qua tế bào vào túi phế nang.
2.3. Dịch tiết trên thanh mòn: Qua niêm mạc xoang hàm, tràn, hốc mũi, họng.
Bình thƣờng ai cũng có các loại tiết dịch trên, nhƣng không nhiều, cho nên hô hấp không bị cản
trở, không ho và khạc đờm. Khối lƣợng tiết dịch đó vào khoảng 100ml/24 giờ, các tiết dịch
đƣờng hô hấp sẽ qua thực quản rồi đào thải theo đƣờng tiêu hoá.
Trong trƣờng hợp bệnh lý, có tình trạng da tiết các dịch của đƣờng hô hấp, ngoài ra có thể còn
các chất khác không gặp trong điều kiện bình thƣờng nhƣ: máu, mủ, giả mạc, bã đậu. Các chất
trên cản trở đƣờng hô hấp, gây phản xạ ho và đƣợc tống ra ngoài, gọi là đờm. Nhƣng cũng có
một số ngƣời không khạc, mà lại nuốt đờm, cho nên thầy thuốc cần chú ý đến điểm này đối với
những trƣờng hợp gọi là ho khan, nhất là ở phụ nữ và trẻ em.
3. CÁC LOẠI ĐỜM
Đờm là hậu quả của nhiều nguyên nhân gây bệnh trên đƣờng hô hấp. Tuy nhiên, trong nhiều
trƣờng hợp, những xét nghiệm đờm về mặt cơ thể bệnh, vi khuẩn, và ngay cả hình thái của đờm
cũng giúp ta chẩn đoán bệnh.
Trên lâm sàng có thể gặp:
1. Đờm thanh dịch: gồm các thanh dịch tiết ra từ các huyết quản và có thể lẫn với hồng cầu.
Loại này rất loãng, đồng đều, thƣờng gặp trong phù phổi mạn tính hoặc cấp. Trong phù phổi mạn
tính hoặc câp. Trong phù phổi mạn tính, đờm màu trong, có bọt, nếu vì phù phổi cấp, đờm hồng
vì lẫn hồng cầu. Về mặt hoá học, đờm thanh dịch có phản ứng anbumin dƣơng tính của Roger.
2. Đờm nhầy: Màu trong nhầy, thƣờng gặp trong.
- Hẹn phế quản: Dịch nhầy do các phế quản tiết ra.
- Viêm phổi: dịch nhầy lẫn với sợi tơ huyết và hồng cầu thoát ra từ các huyết quản và vách phế
nang bị viêm. Đờm thƣờng rất quánh, dính vào thành và đáy ống nhổ và có màu đỏ của gỉ sắt.
3. Mủ. Sản phẩm của các ổ hoại tử do các loại ci khuẩn ở trong phổi hoặc ngoài phổi: ápxe phổi,
ápxe gan, dƣơi cơ hoành vỡ vào phổi, mủ có màu vàng hoặc xanh, hoặc nâu trong trƣờng hợp
apxe gan vỡ vào phổi. Mủ có màu tanh hoặc phối.
Xét nghiệm vi mô, thấy có nhiều sợi chun, thành phần của phế nang, và cũng là dấu hiệu của
huỷ hoại phế nang. Ngoài ra có rất nhiều bạch cầu đa nhân thoái hoá và có thể có vi khuẩn gây
bệnh.
4. Đờm mủ nhầy. Thƣờng gặp nhất trong giãn phế quản. Sau một cơn ho khạc nhiều đờm, nếu
hứng đờm trong một cốc thuỷ tinh, sẽ thấy ba lớp:
- Dƣới đáy: lớp mủ.
- Ở giữa: lớp dịch nhầy.
- Trên cùng: lớp bọt lẫn dịch nhầy và mủ.
Sở dĩ có ba lớp đờm nhƣ vậy, là vì có tình trạng viêm mạn tính ở các phế quản bị giãn, nên vừa
có hiện tƣợng đa tiết, vừa có hiện tƣợng hoá mủ ở các phế quản. Xét nghiệm vi mô có thể thấy
vi khuẩn, nhƣng không có dây chun.
5. Bã đậu: Thƣờng gặp trong lao phổi. Chất bã đậu màu trắng, nhuyễn, lẫn với dịch nhầy, có khi
lẫn máu. Xét nghiệm đờm có thể thấy vi khuẩn lao.
6. Đờm ít gặp: giả mạc bạch hầu, ken sán chó...
- Giả mạc bạch hầu: là sợi tơ huyết thấm qua niêm mạc hô hấp bị viêm trong bệnh bạch hầu: giả
mạc đƣợc thải thành từng mảng màu trắng, có trực khuẩn Loeffler.
- Kén sán chó: đờm rất loãng, trong vắt, lẫn với hạt nhỏ nhƣ hạt kê màu trong. Xét nghiệm vi mô
thấy đƣợc đầu sán chó.
4. CÁCH LẤY ĐỜM
Cần thết lấy đờm để xét nghiệm tìm nguyên nhân bệnh và cũng để theo dõi tiến triển của bệnh.
Trong ápxe phổi, nếu đờm tăng và sốt giảm, tiên lƣợng tốt, và nếu sốt vẫn dao động và ngƣời
bệnh khạc ít đờm, ta cần dè dặt hơn.
- Có thể đựng đờm trong một ống thuỷ tinh hoặc ống sắt tráng men, có nắp, và có ghi khối
lƣợng hằng ngày.
- Nếu ngƣời bệnh hợp tác tốt với thầy thuốc, ta có thể dặn ngƣời bệnh tự ghi lấy số lần khạc
đờm trong ngày đổ đánh giá khối lƣợng hàng ngày.
- Nếu ngƣời bệnh khọng khạc đờm có thể gây khạc nhổ bằng cách cho uống 1g kali iodua.
- Có khi phải thông dạ dày khi đói, hoặc xét nghiệm phân tìm vi khuẩn như trong lao phổi.
nguồn : tham gia group https://www.facebook.com/groups/hoinhathuocvaquaythuocvietnam/
